![]()
Khối lượng phân tử: 211,63, tinh thể hình thoi không màu, khối lượng riêng: 2,986, tức là gấp 1,4 lần kali nitrat và gấp 1,2 lần kali peclorat. Do đó, mật độ lớn là một trong những tính chất đáng chú ý của stronti nitrat. Chất này nóng chảy ở 570°C, và phân hủy khi đun nóng theo phản ứng:
Sr(NO₃)₂ → Sr(NO₂)₂ + O₂,
Và tiếp theo:
Sr(NO₂)₂ → SrO + NO + NO₂
Stronti nitrat tan trong nước; 40,1 gam ở 0°C, 89,4 gam ở 35°C, 93,4 gam ở 60°C, 96,9 gam ở 80°C, 104,9 gam ở 105°C trong 100 gam nước, tức là một lượng nhỏ stronti nitrat hòa tan trong nước ngay cả ở nhiệt độ phòng, nhưng độ tan không thay đổi quá nhiều khi nhiệt độ tăng và ở khoảng 100°C thì thấp hơn kali nitrat. Nó gần như không tan trong etanol hoặc axeton.
Dạng tetrahydrat, Sr(NO₃)₂·4H₂O, cũng tồn tại; có thể thu được bằng cách kết tinh lại từ dung dịch trong nước nhưng dĩ nhiên nó trở thành dạng khan trên 100°C.
Dung dịch stronti nitrat trong nước gần như trung tính; giá trị pH của dung dịch 10 gam stronti nitrat hòa tan trong 100 gam nước là 7,0 ở 25°C. Muối khan có tính hút ẩm nhẹ như amoni peclorat. Một mẫu đã sấy khô và lọt qua rây 80 mesh đã hấp thụ 1,61% độ ẩm ở độ ẩm tương đối 84%. Stronti nitrat dạng bột dần dần bị vón cục, nhưng không đến mức như kali nitrat hoặc clorat. Khi stronti nitrat đã vón cục được nung đến 200~300°C, nó lại trở thành bột khô.
Stronti nitrat không nổ ngay cả khi bị va đập mạnh. Stronti nitrat cháy khi kết hợp với shellac theo tỷ lệ 10:2 tạo ra ngọn lửa đỏ, nhưng sinh ra một lượng lớn tro rắn. Khi hỗn hợp được nạp vào ống giấy và đốt, tro còn lại như một que cứng ở vị trí cháy và gây cản trở ngọn lửa đến mức làm tắt nó. Trong những trường hợp như vậy, sự cháy không dừng lại, mà tiếp tục nhưng không có ngọn lửa. Tro chủ yếu bao gồm stronti nitrit, Sr(NO₂)₂.
Khi hỗn hợp stronti nitrat và magie (theo tỷ lệ khối lượng 6:4) cháy, stronti nitrat phân hủy hoàn toàn do nhiệt độ ngọn lửa cao và ít tạo thành tro. Điều này hoàn toàn khác với phản ứng trên. Phản ứng phân hủy có thể là:
Sr(NO₃)₂ → SrO + N₂ + 2,5 O₂ − 92,15 kcal
Lượng oxy được tạo ra từ 1 gam stronti nitrat là 0,076 gam trong ngọn lửa nhiệt độ thấp, còn trong ngọn lửa nhiệt độ cao sẽ giải phóng 0,189 gam. Do đó, stronti nitrat được dùng chỉ như chất tạo màu trong các hỗn hợp ngọn lửa nhiệt độ thấp và vừa là chất tạo màu, vừa là chất oxi hóa trong các hỗn hợp ngọn lửa nhiệt độ cao.
Stronti nitrat là chất tạo màu quan trọng cho ngọn lửa đỏ. Một số người thường khuyến nghị lithi nitrat cho ngọn lửa đỏ, nhưng ánh sáng phát ra quá yếu nên không phù hợp để thay thế stronti nitrat trong thực tế.
Hỗn hợp stronti nitrat với phốt pho đỏ có thể bắt cháy khi va đập giữa sắt với sắt hoặc sắt với đồng thau, nhưng khó gây nổ. Va đập với đồng thau và nhôm khó gây cháy hỗn hợp này.
Hỗn hợp stronti nitrat với nhôm thường nhanh biến đổi, sinh ra amoniac và khí NOx. Xu hướng này cũng thấy ở các nitrat khác ngoại trừ amoni nitrat. Bụi có chứa stronti nitrat dễ bắt cháy, do vậy cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa giống như với các chất oxi hóa khác.
Chế tạo: Trước tiên điều chế stronti cacbonat, rồi thêm axit nitric để tạo stronti nitrat. Do stronti và bari có tính chất hóa học tương tự nhau, việc tinh chế stronti nitrat trong công nghiệp là vấn đề khó. Hiện có ba phương pháp tách nitrat stronti và bari:
(a) Kết tinh từ dung dịch stronti nitrat. Trong trường hợp này, bari trong tinh thể có hàm lượng cao hơn so với trong dung dịch, do đó nước cái sẽ chứa ít muối bari hơn.
(b) Thêm từ từ axit sunphuric vào dung dịch stronti nitrat trong nước, để kết tủa một phần stronti nitrat dưới dạng sunphat stronti, khi đó tạp chất bari kết tủa cùng với sunphat stronti. Do đó nước cái dần trở nên tinh khiết hơn.
(c) Giống với phương pháp (b), chỉ khác là kết tủa dưới dạng cromat thay vì sunphat.
Chất lượng từ phương pháp (a) không cao, nhưng phương pháp (b) có thể cho hàm lượng Ba trong stronti nitrat dưới 0,0002%, còn phương pháp (c) thì không có số liệu chính xác.
Đóng gói và thể tích lưu trữ: 20 kg trong bao thiếc hoặc giấy kraft, 1,00 m³ cho 1000 kg.
Chất lượng: Loại thương mại lọt qua rây 80 mesh. Rõ ràng có sự thay đổi về chất lượng sản phẩm do lẫn tạp chất của Ba (ảnh hưởng đến màu đỏ của ngọn lửa) nên yêu cầu hàm lượng muối Ba càng thấp càng tốt. Chất này không được dùng phổ biến trong pháo hoa do tính hút ẩm, nhất là khi yêu cầu dễ mồi cháy. Nhưng nó tạo ra màu đỏ rất sáng cho ngọn lửa, và có thể được sử dụng nhiều hơn nếu cải thiện được khả năng chống ẩm. Hiện nay nó chủ yếu dùng cho pháo hiệu khẩn cấp trên đường, tàu hỏa và biển.